Thứ Tư, 17 tháng 1, 2018

Nghề đóng, sửa chữa ghe.

Tại Thủ Thiêm có một số trại đóng ghe. Không ai biết được nghề này ra đời ở đây từ lúc nào, có lẽ từ khi ở đây có bến đò. Những chủ trại đóng ghe lúc trước có ông Hai Tô, ông Sáu Nén, ông Tư Xích, ông Hai Mạnh, ông Hai Phát (Thái Văn Phát), ông Ba Thi (ở chỗ miễu An Lợi Vạn, ấp Cây Bàng). Họ làm nghề đóng ghe từ trước ngày Giải phóng, đến gần đây thì tạm ngưng do nhu cầu đóng mới không còn. Trong số những chủ trại này, chỉ có ông Hai Tô còn sống, những người kia thì đã qua đời. Các ông này là người sống ở Thủ Thiêm, các thợ phụ đóng ghe cũng là người Thủ Thiêm. Gỗ dùng đóng sửa ghe là gỗ sao, thường được mua ở các trại cưa ở cầu Rạch Ông rồi vận chuyển về Thủ Thiêm để đóng thành chiếc ghe theo nhu cầu. Vùng Rạch Ông là một làng nghề đóng ghe thuyền có tiếng từ xưa, nhưng người Thủ Thiêm không thuê đóng ghe tại đây vì thợ ở Rạch Ông quen sản xuất loại ghe Cần Đước có hình dạng không giống loại ghe Thủ Thiêm. Ghe Thủ Thiêm hình dáng nhỏ gọn, mũi và lái đều bằng không nhọn. Mũi sơn đỏ, lái sơn xanh, chỉ dùng để đưa khách và một số lượng hàng rất hạn chế. Ghe có nhiều cỡ, từ dài 7m, ngang 1,5m cho đến loại ghe đò dài 9m, ngang 1,8m. Đò ở bến Cây Bàng nằm trong các kích thước đó. Ghe nhỏ nhất là loại 4 đôi (tính theo số ván làm be ghe), lớn hơn là loại 4 đôi một độn (4 đôi và một nửa miếng – hay là nửa lá), loại 5 đôi. Một lá là một tấm gỗ có chiều rộng khoảng 20cm, dày 2cm, dùng để làm ván be. Ván dùng để đóng đáy thuyền gọi là tiếp. Khi đóng mới một chiếc ghe nào thì trước hết phải ráp hai tấm tiếp cho khớp nhau. Sau đó người thợ đâm lô. Lô là miếng ván mũi và lái của chiếc thuyền, được gọi là lô mũi và lô lái. Động tác ghép lô cho chắc chắn ở hai đầu mũi và lái của thuyền được gọi là đâm lô. Sau khi đâm lô, người thợ mới ráp ván be. Các miếng ván be ghe thường có dạng hình thoi, rộng ở giữa và nhỏ ở hai đầu. Ván be phải có kích thước chuẩn mực, trước khi ráp đã được cắt theo ni thật chính xác. Cách đo, cắt theo ni của họ cũng rất đặc biệt. Họ dùng một dây sắt, uốn dây sắt một cách sít sao theo hình dáng của miếng ván be đầu tiên. Sau đó, họ lấy dây sắt có hình dáng miếng ván be ấy đặt lên trên miếng ván khác và vẽ theo hình dây sắt để cắt theo đó mà hình thành nên miếng ván be mới. Ván be được ráp hai bên từ dưới lên trên cho đều để hình thành nên vỏ ghe. Sau đó, người thợ cắt cây cong (là các thanh gỗ có bề dày 7-8cm, được ghép phía trong vỏ ghe để giữ cho vỏ vững chắc) làm sườn cho vỏ ghe. Kích thước của cây cong không được làm sẵn mà phải dựa vào hình dạng của vỏ ghe để lấy ni rồi mới được ráp vào. Để bịt kín những khe hở, người thợ phải xảm ghe. Vật liệu để xảm ghe là bao bố, dây thừng trộn với dầu chai. Chỗ nào có đóng đinh thì lấy dầu chai trét đầu đinh lại để bảo vệ đinh khỏi bị rỉ sét. Ngoài loại ghe đưa khách, người Thủ Thiêm còn đóng xuồng thông (loại ghe dùng trong gia đình để đi lại trên kênh rạch), tam bản (chỉ có 1 chèo lái bên tay trái). Xuồng tam bản có điểm đặc biệt là miếng ván lô rộng 3 - 4 tấc, mỗi bên ghép lên bằng ván 2 tấc, mũi và lái bằng không giống mũi lái nhọn ở miệt Long An. Trước đây, gia đình nông dân nào cũng phải có một chiếc xuồng để chở lúa, chở mạ, chở đồ... Trong quá trình đóng ghe, sau khi ghim lô xong thì chủ ghe sửa soạn mâm cúng. Lễ vật cúng là bộ tam sên gồm thịt luộc, tôm/cua, hột vịt và một bình bông. Những gia đình có ghe (đò hay xuồng) đều có tục lệ cúng ghe vào ngày mùng 3 Tết. Họ bày lễ vật cúng tại hai nơi, cả ở trên nhà lẫn ở dưới ghe. Sau khi cúng trên nhà, chủ ghe cúng dưới ghe, lễ vật là con vịt, lấy vàng bạc dán lên ghe để tỏ lòng trân trọng. Bây giờ các trại này chỉ còn sửa chữa vá ghe, không còn đóng mới nữa vì việc đưa đò sang sông bây giờ chỉ còn ở bến An Lợi Đông. Thêm nữa là những người làm nghề đóng ghe đã già hoặc mất đi, con cháu họ không tiếp tục nghề nữa nên ở đây nghề đóng ghe đã mai một. Điều kiện bến bãi để đóng ghe cũng không còn. Trước đây có bãi để đóng ghe rộng từ chân bờ kè đá (làm từ năm 1937) ra mí nước. Sau này bờ sông bị lở. Một số nơi kè đá bị lở, người dân lấy đá về lót đường. Khoảng năm 1999 - 2000, con đường dọc mé sông được nâng cấp, lấn vào các kè đá làm cho khoảng cách từ kè đến mí nước trở nên rất hẹp, các trại ghe không còn chỗ hoạt động nữa. Một người nổi tiếng trong nghề sửa chữa, vá ghe là bác Huỳnh Văn Khỏe được giới thương hồ dọc sông Sài Gòn quen miệng gọi bác Tám Khỏe. Bác theo nghề vá ghe từ cha để lại đã ngót 40 năm nay. Cha của bác là thợ vá ghe được đánh giá là giỏi nhất cả khúc sông Sài Gòn từ những năm 50. Lúc ấy cả vùng này chỉ có bốn điểm vá ghe, mà gia đình của bác chiếm hết ba điểm. Anh em bác được cha tận tình chỉ vẽ, truyền nghề lại. Và họ không phụ lòng người cha, cũng trở thành những người thợ vá ghe lành nghề và lương thiện . Một gia đình khác cũng theo nghề vá ghe từ hơn 50 năm nay, là gia đình anh Huỳnh Văn Thành. Cả ba đời nhà anh bám lấy ven sông Sài Gòn, sống bằng nghề vá ghe. Những người thợ vá ghe cho rằng ghe xuồng dưới sông cũng chẳng khác chi xe cộ chạy trên đường, cũng hư hao bất chợt, cũng cần sửa chữa thường xuyên. Điểm vá ghe cũng tương tự như mấy điểm bơm hơi vá ép trên đường. Ghe bị lủng, bị mục được người ta đưa đến để vá. Vá xong, nếu thả xuống nước mà nổi ngon lành, nước không vô, xài được bền, vậy là có uy tín. Thợ vá ghe Huỳnh Văn Thành tâm sự: “Vá ghe đâu có khó, mọi cái có quy chuẩn rồi, lấy miếng ván cũ ra gọt miếng khác y chang như vậy thế vào, sau đó chốt đinh, trét chai cho kín là xong” . Tuy thế, nghề vá ghe cũng phải học tập nhiều mới thành, mới có được uy tín để có được bạn hàng. Cái khó của nghề vá ghe là phần đưa ghe lên bệ. Nếu là ghe nhỏ, thì chỉ cần sức trai tráng của một vài cậu thanh niên cùng nhau nhịp nhàng nâng lên theo tiếng hô của người hướng dẫn là ghe vào bệ. Nhưng nếu là ghe lớn thì đợi thủy triều dâng lên, nhờ sức nước mà đưa ghe lên đậu sát mé, rồi dùng con đội kích lên, kê cao thân ghe rời khỏi mặt nước. Các công đoạn này đều làm bằng tay, không cần cẩu, máy móc nên mất thời gian nhiều. Một cái khó khác nữa của nghề vá ghe là nằm ở khâu mộc. Ghe xuồng mục, gỗ bị hư hại phần nào thì sẽ được thay phần đó bằng cách lắp một miếng khác cho vừa rồi vá lại. Những chỗ hở sẽ được nhét bằng dây thừng dập thiệt khít sau đó trét chai lên cho nước khỏi ngấm vào. Mỗi chiếc ghe thường được sửa theo định kỳ 1 hoặc 2 năm một lần. Khu vực gần Ủy ban Nhân dân xã An Lợi Đông hiện còn một số hộ sửa ghe. Công việc chủ yếu ở các cơ sở này là thay cong, thay lô, thay ván, trét chai, sơn lại ghe. Để cắt miếng ván be cho đúng kích cỡ, hình dạng, thợ sửa ghe dùng cây sắt để lấy ni miếng ván bị thay. Họ bẻ thanh sắt cho vừa khít miếng ván bị thay, xong đặt thanh sắt lên miếng ván mới, lấy mực vẽ rồi cắt. Xong đặt vào be ghe uốn cho vừa khít vào cây cong. Phải dùng “cảo” để cho miếng ván nằm đúng vào vị trí. Miếng ván làm tiếp lườn dầy hơn, khoảng 2 phân rưởi, 3 phân nên người thợ phải đốt lửa để “uốn” cho đúng vị trí. Sửa xong ghe, trước hạ thủy thì chủ ghe cúng. Thường lễ vật là trái cây. Cũng có khi chủ ghe cúng vịt quay và trái cây. Để trở thành thợ sửa chữa vá ghe lành nghề, tất cả đều qua kinh nghiệm, ban đầu thì làm việc lặt vặt như trét chai, xẻ ván, đóng đinh… dần dần khá hơn thì làm mộc, cắt ráp khung xương trong ghe. Chẳng cần qua trường lớp gì cả, chỉ cần sáng dạ và khéo léo là thành nghề.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét