Thứ Bảy, 20 tháng 1, 2018

Sông Rạch Thủ Thiêm.

Đa số những con rạch ở đây có tên gọi dính liền với thiên nhiên như rạch Lá, rạch Cá Trê Lớn, rạch Cá Trê Nhỏ, rạch Bần Cụt, xẻo Ông Rái, rạch Ngọn Én hay tên của những người sống lâu năm ở đó như mương Bà Bằng. Rạch Lá được gọi như thế vì đơn giản đó là con rạch có nhiều lá dừa nước hai bên bờ. Rạch Cá Trê Lớn và Cá Trê Nhỏ được gọi như thế là vì ngày xưa ở hai con rạch này có nhiều cá trê. Hai con rạch được phân biệt với nhau hai chữ Lớn và Nhỏ. Ở đây “Lớn” hay “Nhỏ” không phải vì hai con rạch ấy lớn nhỏ khác nhau, cũng không phải vì cá trê ở rạch này lớn hơn cá trê của rạch kia, mà đơn giản là vì người ta gọi tên con rạch này là Cá Trê, rạch thứ hai cũng có nhiều cá trê, cũng được gọi rạch Cá Trê, và thế là để phân biệt, con rạch đầu tiên mang tên cá Trê được gọi là Lớn, con thứ hai được gọi là Nhỏ. Bây giờ, trên giao thông, người ta gọi là Cá Trê I và Cá Trê II. Rạch Bần Cụt được mang tên của loài cây vùng ngập nước như đã viết ở trên. Rạch Ngọn Én nằm sâu trong lõi của đất Thủ Thiêm. Nơi đây trước đây có rất nhiều én. Trên vùng đất hoang sơ, trên những rặng bần san sát, từng bầy én đậu kín cả vùng. Hiện nay, én vẫn còn tụ lại ở đây làm tổ, sinh sôi nẩy nở dù con người đã có tác động nhiều đến vùng đất này. Ngoài tên gọi theo tự nhiên, rạch ở Thủ Thiêm còn gọi theo tên của những di tích, công trình tôn giáo, tên người gắn liền với vùng đất này như rạch Bảng Đỏ, rạch Miễu Cây Dương, rạch Ông Cậy. Rạch Bảng Đỏ có tên gọi như vậy vì ở đầu con rạch đó có một biển màu đỏ làm tín hiệu giao thông, đảm bảo an toàn giao thông đường thủy. Xẻo Ông Rái vốn trước đây là một con lạch có rất nhiều rái cá. Lâu ngày người dân lập miễu thờ, trở thành xẻo Ông Rái. Rạch Cửa Lớn bắt nguồn từ sông Sài Gòn, nằm giáp ranh giữa phường An Lợi Đông và phường Bình Khánh (trước cầu Cá Trê 1). Cửa là lối vào của kênh, rạch. Vị trí giáp với các con sông. Lớn vì cửa của con rạch này lớn hơn cửa của các con rạch khác trong vùng. Vì vậy, người dân gọi nơi đây là rạch Cửa Lớn để phân biệt với các con rạch khác ở Thủ Thiêm.

Đò máy đuôi tôm.

Trước kia, ở Thủ Thiêm chỉ có hai bến đò là bến Cây Bàng và bến An Lợi Đông. Khoảng sau năm 1980, do phà Thủ Thiêm thường bị hư phải ngưng chạy, việc đi lại của dân Thủ Thiêm gặp nhiều khó khăn, người dân lập thêm bến đò cạnh bến phà để đưa khách sang sông, bến đò Caric hình thành từ đó. - Bến Cây Bàng (ở xã Thủ Thiêm), phía bên Thủ Thiêm đậu tại cầu Ông Cậy (phía hạ lưu), phía Sài Gòn đậu ở cột cờ Thủ Ngữ. - Bến An Lợi Đông (xã An Lợi Đông) phía Thủ Thiêm đậu tại đầu cầu 13, phía Nhà Bè đậu tại chợ Tân Thuận. - Bến Caric (ở xã An Khánh) trước đây đậu gần bến phà Thủ Thiêm, sau này dời xuống đậu ở cầu Ông Cậy (phía thượng lưu) bờ Thủ Thiêm, phía bờ Sài Gòn đậu tại cột cờ Thủ Ngữ. Nghề đưa đò ở đây có đò dọc đò ngang, đò ngang là đi qua Sài Gòn, đò dọc là đi lên phía Bình Quới, lên Thủ Dầu Một hay xuôi xuống quận 4, quận 7.

Nghề ghe vàm (buôn bán trên sông).

Nghề ghe vàm,cũng diễn ra rất nhộn nhịp. Những người làm nghề ghe vàm là những tiểu thương, chủ yếu là người Hoa từ phía quận 7 về đây chèo đò, cặp mạn tàu thuyền, trao đổi chủ yếu của ghe vàm là thức ăn, hoa quả. Những ghe chở hàng hóa linh tinh cặp mạn tàu để bán cho thủy thủ hay những người đang làm việc trên tàu như công nhân bốc xếp hàng hóa, công nhân gõ rỉ. Thường họ bán nước uống, cơm, mì, hủ tiếu và chút ít rau quả, thịt cá…c

Bến đò Thủ Thiêm.

Bến đò Thủ Thiêm hoạt động gần như 24 giờ mỗi ngày. Từ 1-2 giờ khuya, đò đã bắt đầu đưa những người buôn bán sang quận 1 để đến các chợ đầu mối mua hàng và quay trở về cho kịp buổi chợ sáng. Tờ mờ sáng là bắt đầu người người sang sông để đi làm, học sinh đi học... đến trưa hay chiều hết giờ làm lại quay về. Trong suốt ngày, có những người sang sông vì việc này hay việc nọ, thăm viếng, đi cúng bái ở các chùa miễu, khách đi dạo trên sông, đưa khách đi dọc bờ sông và nhiều người khác nhờ đò đưa đến các con tàu đang neo đậu trên sông... Buổi tối, đò chuyên chở những người đi làm về muộn, người đi sang thành phố chơi... Khi vắng khách, các con đò thường đậu ở bến Cây Bàng, phía Thủ Thiêm. Tuy nhiên khi cần, khách đến bến đò phía quận 1 có thể gọi đò sang rước. Trước năm 1975, những người đưa đò ở bến Cây Bàng qui tụ thành 2 tổ: tổ 1 và tổ 2 với 127 chiếc đò. Ở bến An Lợi Đông có khoảng 60 chiếc đò. Người đưa đò phần nhiều là dân từ miền Tây (Thới Lai, Cờ Đỏ, Ô Môn, kinh Bảy Ngàn, kinh Mười Ngàn...) lánh nạn chiến tranh lên Thủ Thiêm ở. Họ làm nghề đưa đò đến khoảng đầu thập niên 80 mới về quê. Lúc bấy giờ tàu nước ngoài nhiều. Mấy cô đưa đò thường đưa thuyền viên cặp mạn. Họ cũng chở hàng của thủy thủ lên bờ và kiếm được khá tiền. Đưa đò ngang sông giá 1đồng/người. Mỗi chuyến đò có thể chở đến 10-12 người, nhưng khi được 7-8 người thì có thể tách bến. Nếu khách bao đò sang sông (đi ngay) thì trả 5 đồng. Đò chở cả xe đạp, xe Honda. Người đưa đò có thể nuôi gia đình sống được. Năm 1978, Hợp tác xã đò ngang Thủ Đức được thành lập gồm người đưa đò ở bến Cây Bàng. Đến năm 1981, Hợp tác xã đò ngang quận 2 được thành lập bao gồm người đưa đò ở cả 3 bến Cây Bàng, An Lợi Đông và Caric. Mỗi chiếc đò được phép chở 12 người. Sau đó, việc quản lý chuyên chở trên sông gắt gao hơn, số người được phép chở giảm xuống còn 8 người rồi còn 5 người. Đến tháng 9 năm 2004, bến đò Cây Bàng có 87 chiếc đò ngang. Năm 2004, thành phố không cho phép đưa đò sang sông Sài Gòn ở hai bến Cây Bàng và Caric nữa, chỉ bến An Lợi Đông là còn phép hoạt động, đưa người và chuyên chở hàng hóa qua quận 7 hoặc cặp vào các tàu đậu ở sông. Đến tháng 5-2005, việc đưa đò ngang và đò dọc chấm dứt, cũng chấm dứt luôn việc cấp giấy đăng kiểm cho phương tiện chuyên chở từ hai bến Caric và Cây Bàng. Đối với những người đưa đò không còn việc làm nữa, Nhà nước hỗ trợ cho mỗi người 9 triệu đồng để tìm việc làm mới hoặc học nghề mới và 3 triệu đồng cho chiếc đò. Người làm nghề đưa đò một số bán đò, một số còn đò nhưng không chở khách được vì không đăng kiểm được.

Dưới quận là phường, dưới phường là khóm.

Tháng 12 năm 1966, quận 1 sát nhập thêm hai phường mới lập: An Khánh và Thủ Thiêm, từ xã An Khánh thuộc quận Thủ Đức, tỉnh Gia Định kế cận tách ra. Tháng 1 năm 1967, hai phường mới của quận I lại tách ra, lập thành Quận 9 của Đô thành Sài Gòn có 2 phường.Từ năm 1976, Quận 9 giải thể, trả 2 phường (đổi thành 2 xã) về huyện Thủ Đức.Ngày 29 tháng 12 năm 1977, giải thể huyện Thủ Đức để thành lập các quận Thủ Đức.Quận 2 (trên cơ sở các xã An Phú,Bình Khánh, An Khánh, Thủ Thiêm, Bình Trưng, Thạnh Mỹ Lợi) và Quận 9.

Phà Thủ Thiêm.

Hình Thành Bến đò Thủ Thiêm xuất hiện vào khoảng năm 1912. Theo Đại Nam nhất thống chí - Tập 5, dòng 4, trang 78, quyển 27. Tỉnh Biên Hòa, đây một quyển sách địa lý được soạn bằng chữ Hán dưới triều Tự Đức có đoạn viết về vùng đất Thủ Thiêm: "Ở thôn Giai Quý, huyện Nghĩa An có chợ tục gọi là Thủ Thiêm; trước chợ có sông Bình Giang, đối diện tỉnh Gia Định. Tàu biển, thuyền sông tấp nập, dân sở tại làm nghề chở đò ngang, đò dọc và theo dòng nước đem bán thực phẩm như cá, thịt, rau, quả". (Huyện Nghĩa An, nay là quận 2 và quận 9. Sông Bình Giang tức sông Sài Gòn.) Như vậy, có thể nói trước thời Tự Đức nơi đây đã có hoạt động của một bến đò. Thủ Thiêm Theo từ điển Địa danh Sài Gòn, địa danh Thủ Thiêm có từ cuối thế kỷ XVIII. Lúc đó, vùng này còn hoang sơ, có nhiều đình, chùa, miếu thờ, người dân đến sống chưa nhiều. Nhưng đến đầu thế kỷ XX, khi bến đò Thủ Thiêm (nay là phà Thủ Thiêm) xuất hiện, nhiều người kéo đến sinh sống, làm ăn và khu vực này dần trở nên đông đúc. Lúc ban đầu, người ta dùng sức người chèo đò sang sông, về sau dần dần thay thế bằng thuyền máy đuôi tôm Hoạt động bến phà Nhiệm vụ Vào khoảng thập niên 60, khi xí nghiệp đóng tàu Caric thành lập, hai chiếc phà có trọng tải 20 tấn (còn gọi là phà hột vịt) được sử dụng. Từ đó bến phà Thủ Thiêm (còn gọi là bến Cây Bàng) chính thức nhận nhiệm vụ đưa khách sang sông cùng song hành với những chuyến đò ngang.. Các thế hệ phà Đầu thế kỷ 20, bến phà Thủ Thiêm vẫn chỉ là những chiếc đò chèo, sau nữa mới có ghe máy. Những năm 1930, thế hệ phà máy mới xuất hiện, có thể chở được ôtô thay vì chỉ chở người. Trên cầu dẫn xuống phà có một mâm quay. Xe hơi muốn qua phà đều phải chạy lên chiếc mâm quay này để xoay đầu rồi mới chạy xuống phà. Năm 1964 cầu dẫn vào phà được sửa lại cùng với thế hệ phà máy hiện đại do xưởng Caric ngay cạnh bến phà đóng: bốn chiếc phà hình bầu dục, phà "hột vịt", xe hơi, xe tải, ba gác có thể qua bên Sài Gòn, làm ăn cũng thuận tiện hơn. Những chiếc phà này chở được nhiều khách hơn bây giờ vì có hai tầng(sau năm 1975 sở GTVT thấy phà quá cao, không an toàn khi chạy trong những ngày mưa gió nên cắt bớt chỉ còn một tầng.) Một trong những chuyến phà cuối cùng phục vụ hành khách trước khi phà Thủ Thiêm ngưng hoạt động. Nhân viên Số lượng nhân viên làm việc tại bến phà sau năm 1975 dao động khoảng từ 40 đến 50 người. Năm 2012,có 44 nhân viên làm việc tại phà Thủ Thiêm, có nhiều người đã công tác hơn 20 - 30 năm. Có nhiều gia đình có hơn 2 thế hệ nối tiếp nhau cùng làm việc ở Phà Thủ Thiêm, họ đã xem Phà Thủ Thiêm như ngôi nhà thứ hai của họ. Kết thúc sứ mạng lịch sử Cùng với sự phát triển kinh tế ngày càng cao và năng động của TP Hồ Chí Minh, cầu Thủ Thiêm rồi hầm vượt sông Sài Gòn hoàn thành và đưa vào sử dụng, đồng thời việc triển khai công tác di dời, giải tỏa để thực hiện dự án khu đô thị mới Thủ Thiêm nên số lượt hành khách qua lại ngang sông tại bến phà đã giảm rất nhiều. Chính vì thế, Theo Sở GTVT Thành phố Hồ Chí Minh từ 0 giờ ngày 1-1-2012, phà Thủ Thiêm sẽ chính thức ngừng hoạt động, kết thúc sứ mệnh lịch sử chuyên chở hành khách và hàng hóa qua sông Sài Gòn gần 100 năm. Có thể nói, phà Thủ Thiêm đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh mà lịch sử đã giao phó, góp phần không nhỏ vào công cuộc xây dựng và phát triển Thành phố Hồ Chí Minh ngày một văn minh, hiện đại, nghĩa tình.

Đền Cô Bơ.

Đền Cô Bơ nằm trên đường Cây Bàng 2,cạnh đền ông Cỏn với diện tích khoảng 100 m2.Mặt cửa đền quay hướng ra sông Sài Gòn.Sân đền không rộng lắm,trong sân có một bộ hòn non bộ nhỏ và trồng nhiều bonsai trên đó,nền được lát bằng gạch tàu.Từ ngoài đi vào phía bên phải có một cây sung lớn.Khung cảnh xung quanh rất thoáng mát. Đền được xây dựng vào năm 1960.Người có công xây dựng đền này là bà Lê Thị Diệm,và cũng là người trông coi đền.Sau một thời gian định cư ở đây từ năm 1945 bà cùng chồng,các con và một số người đồng hương miền Bắc lập đền thờ này. Tên Cô Bơ có nguồn gốc từ miền Bắc.Theo giai thoại Cô Bơ là người ở dưới sông và mặc trang phục trắng. Ngày cúng chính của đền hàng năm là ngày 12.6 Âl,các nghi lễ cúng gần giống như các miễu.Ngoài ngày 12 tháng 6 hàng năm còn có những ngày cúng khác như ngày Rằm,mùng Môt...Ngày thường nếu ai muốn cầu nguy ện điều gì thì cũng có thể đến viếng đền. Đền Cô Bơ và đền Ông Cỏn là hai cơ sở tín ngưỡng của người miền Bắc di cư vào vùng đất Thủ Thiêm thuở trước.Tuy nhiên,người đến viếng,cúng bái không phân biệt Bắc hay Nam vì tất cả họ đến đây để cầu cho việc làm ăn thịnh đạt và cuộc sống an lành.

Tịnh Xá Như Lai.

Như Lai là một tịnh xá,nằm sâu trong một con hẻm nhỏ trên đường Cây Bàng,phường Thủ Thiêm. Tịnh xá do ông Trần Ngọc Quốc,pháp danh sư Huệ Minh quê ở Bình Thuận xây dựng vào năm 1962.Ông mất năm 2000.Sau khi ông mất người em của ông là Thích Nữ Diệu Minh trông coi.Cô là đời thứ hai ở tịnh xá nấy.

Miễu Chiến Sĩ.

Miễu Chiến Sĩ nằm trên con đường nhỏ ven sông Sài Gòn,thuộc phường An Lợi Đông,quận 2.Đây là một ngôi miễu nhỏ được lập để thờ các chiến sĩ cách mạng hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Mĩ trên địa bàn Thủ Thiêm.Ngôi miễu trên là do ông Tám Thể,em ruột ông Sáu Hoán,một người tham gia và có đóng góp nhiều cho cách mạng lập nên vào khoảng năm 1965. Kiến trúc miễu được làm đơn giản.Cổng chào hướng ra sông Sài Gòn luôn lộng gió. Hai bên cổng ghi câu đối bày tỏ lòng biết ơn của nhân dân đối với các chiến sĩ. Hàng năm,vào ngà 16.3 Âl là ngày cúng chính trong năm của miễu.Ngoài ra,hàng tháng những người trong hội miễu cũng tổ chức cúng hai lần,vào ngày mùng 2 và ngày 16 âm lịch.

Giai Quới miêu.(Miễu Cây Me).

Giai Quới miễu hay còn gọi là miễu Cây Me.(do trước đây trong sân miễu có một cây Me lớn) nằm sát đường Bờ sông thuộc ấp Cây Bàng 2,phường Thủ Thiêm. Miễu được xây dựng khá kiên cố,tương đối kín cổng cao tường,không có gì đặc biệt về mặt kiến trúc. Miễu Cây Me do những người trong thân tộc họ Nguyễn xây dựng cách đâ nhiều năm,không nhớ rõ là thời gian nào.Theo lời kể của ông Nguyễn Văn Đủ,một người trong dòng tộc Nguyễn,thì khi còn nhỏ,ông đã thấy có ngôi miễu này rồi.Đến nay đa có ba đời trong dòng tộc Nguyễn trông coi miễu.Đời cha và chú của ông,đòi ông và hiện nay là con cháu ông tiếp tục trông nom ngôi miễu. Ngày lễ cúng chính của miễu Cây Me là ngày 21,22 và 23 tháng 2 âm lịch hàng năm,bá tánh thập phương cũng thường xuyên về đây để viếng Bà. Không giống như những ngôi miễu khác,có Hội miễu lo việc tế lễ,ở miễu Cây Me,người đứng ra tổ chức là người cháu của ông Đủ,đảm nhiệm việc thuê gánh hát về biểu diễn từ hai đến ba đêm.Gánh hát chuên nghiệp khoảng hơn chục người về biểu diễn trên sân khấu ở trước miễu.Buổi biểu diễn có kèn trống linh đình thu hút nhiêu người tới xem và nhất là trẻ con trong xóm. (sau này vợ chồng bà Thủy làm thủ từ).

Nhà nguyện Thánh Tâm.

Nhà nguyện Thánh Tâm tọa lạc tại phường An Lợi Đông,quận 2,đặt dưới sự quản lí của giáo xứ Thủ Thiêm.Nhà nguyện được lập vào năm 1972.Khi đó giáo dân của vùng này cũng chưa nhiều nhưng cha Nguyễn Văn Lục,Cha xứ Thủ Thiêm từ năm 1968 đến năm 1991,muốn lập ra một nơi để người dân xung quanh có chỗ cầu nguyện và lễ bái nên ông mua một ngôi nhà của một người dân trong vùng và cho sữa sang lại.Ngôi nhà nguyện lúc đầu khá nhỏ,lợp mái tole,cột gỗ,nền rất thấp.Phía trước nhà nguyện khi đó là một ao rau muống.Đến năm 1999,ngôi nhà nguyện xuống cấp nên cha Nguyễn Ngọc Thu,Cha sở Thủ Thiêm đứng ra xây cất mới.Ao rau muống phía trước được lấp đi và nền nhà nguyện được nâng lên cao nhiều lần so với trước.

Miễu Ông Địa.(An Tân Thần miễu).

Miễu Ông Địa tọa lạc tại ấp Cây Bàng 1, phường Thủ Thiêm,quận 2.Nằm giữa đồng,cách xa đường chính nhưng miễu Ông Địa lại được rất nhiều bá tánh thập phương biết đến,không chỉ người dân Thủ Thiêm,quận 2 mà cả người dân phía bên Sái Gòn,Chợ Lớn. Miễu Ông Địa có tên gọi chính thức là An Tân Thần miễu. Thời gian thành lập miễu không rõ, nhưng theo nhiều vị cao niên thì miễu được lập khoảng đầu thế kỉ XX.Lúc đầu là một ngôi miễu nhỏ, xây dựng trên một gò cao thờ Thổ Địa và thần Nông.Đây là tín ngưỡng của những người nông dân làm ruộng xung quanh miẽu ngày trước cầu mong cho mùa màng tươi tốt.Xung quanh miễu ngày nay có nhiều mồ mả của người dân địa phương và những bậc tiền hiền đã có công tạo lập ngôi miễu. Đáng chú í là có nhiều bia mộ khắc chữ Hán và ghi ngày lập từ rất lâu,trong số này có hai tấm mộ bia còn sót lại ghi năm lập mộ là 1921 và 1938.Nếu căn cứ vào năm tháng ghi trên những mộ bia ấy thì ngôi miễu An Tân Thần có lẽ được lập nên từ khoảng thời gian này hoặc trước đó. Có thể nói An Tân Thần miễu hay gọi với tên dân gian là miễu ông Địa đã gắn chặt với sinh hoạt tín ngưỡng của không chỉ người dân trên vùng đất Thủ Thiêm mà còn đối với cư dân ở nhiều nơi khác.Đối với người dân Thủ Thiêm,ngôi miễu còn là nơi rất gần gũi,là chỗ nghỉ chận,trú mưa nắng,là chỗ chơi đùa của tuổi nhỏ khi được theo cha mẹ ra đồng.Hình ảnh về một ngôi miễu nhỏ thân thương có cây da cổ thụ che mát,có ao sen và con rạch nhỏ uốn quanh vẩn còn in đậm trong kí ức của nhiều người.

Trường Học Thánh Anna Thủ Thiêm.

Trước năm 1975 Hội dòng Mến Thánh Giá Thủ Thiêm có 3 cơ sở giáo dục tại Thủ Thiêm: 1/ Trường Nữ Thủ Thiêm: số 76A tổ 14, khu phố 1, phường Thủ Thiêm, quận 2 (địa chỉ cũ: 76 đường Nhà Thờ, xã Thủ Thiêm, quận Thủ Đức, Sài Gòn) thành lập năm 1875. Hiện nay là cơ sở 2 trường tiểu học Thủ Thiêm.Cơ sở này nằm trước cổng Hội Dòng, lưng giáp với UBND phường Thủ Thiêm (cũ), mặt đối diện với cổng Hội Dòng 2/ Trường Nam Thủ Thiêm: số 56 tổ 13, khu phố 1, phường Thủ Thiêm, quận 2 (địa chỉ cũ: 56 đường Nhà Thờ, xã Thủ Thiêm, quận Thủ Đức, Sài Gòn) thành lập năm 1875. Hiện nay là trường Mầm Non Thủ Thiêm.Cơ sở này nằm bên phải Nhà thờ Thủ Thiêm. 3/ Trường Nữ Thánh Anna: số 76A tổ 16, khu phố 1, phường Thủ Thiêm, quận 2 (địa chỉ cũ: 76 đường Nhà Thờ, xã Thủ Thiêm, quận Thủ Đức, Sài Gòn) thành lập năm 1963. Hiện nay là cơ sở 1 trường tiểu học Thủ Thiêm.