Thứ Bảy, 15 tháng 12, 2018

Con đò Thủ Thiêm .

Chừng nào Chợ Lớn hết vôi Nước Nam hết giặc em thôi đưa đò. Bắp non mà nướng lửa lò Đố ai ve được con đò Thủ Thiêm. Đó là mấy câu ca dao được phổ truyền sâu rộng trong dân gian khi Pháp vừa chiếm Sài Gòn - sau hiệp ước năm Nhâm Tuất (5-6-1962) - nói lên tấm lòng yêu nước và lòng chung thủy của cô lái đò với quốc gia và người chồng sắp cưới. Cô lái đò Thủ Thiêm đã xây mồ ở đáy sông Đồng Nai nhưng ngày sau vẫn còn khắc đậm hình ảnh và ghi sâu tấm lòng yêu nước của "con đò Thủ Thiêm" bằng mấy câu hát bình dân. Thủa ấy anh là trai Bến Nghé, Chăn trâu cắt cỏ xứ quê hiền. Em là cô lái đò quê mẹ, Nối nhịp cầu đôi bến Thủ Thiêm. Giữa đêm mưa gió, trời giông bão, Em quạt lửa lò hơ áo anh. Tình chớm nở trong khoang đò nhỏ, Lửa lò nhen nhúm mối duyên lành. Bên ánh lửa lò, em gởi tặng Hột tinh anh: Hột bắp Biên Hòa. Em gieo bắp giống trong lòng đất Khi bắp trổ cờ, tình nở hoa. Nước ròng trong ngọn chảy ra, Tình ta như đất phù sa quyện bờ. Nhưng "Từ ngày quân Pháp kéo vô, Nó giăng dây thép họa địa đồ nước Nam". Sóng tàu đục nước trường giang Chân trời Bến Nghé phủ giăng mây mờ. Ai tham đồng bạc Con Cò Bỏ cha bỏ mẹ theo phò Lang - sa". Khi đàn cò trắng bay qua, Đoàn người cắt cỏ đi xa tìm đồng. Con cò nằm mỏi bên sông, Trăng treo sào gãy, lặn trong khoang đò. Bến sông đã tắt lửa lò, Buồn thay là những chuyến đò tản cư. Em còn nhớ đêm trăng vừa mọc, Trăng mới mồng ba, bén lưỡi liềm. Em tiễn anh qua đò cứu nước, Hẹn ngày quang đãng mới xe duyên. Từ đây em khép lòng thôn nữ Neo đò căm hận bến Thủ Thiêm Trong khi phường cướp nước cuồng điên, Vò nát muôn hoa hồng trinh nữ. Khi nút rượu "sâm banh" vừa nổ Là tan nát đời hoa mới nở Súng gầm sao động nước trường giang Tóc xõa dài rũ rượi mảnh khăn tang Rượu và máu chảy dài theo sợi tóc Còn đâu nữa hơi dừa dầu thơm phức, U tóc huyền cô gái quê hương. Giặc vào lở bến trường giang, Con đò chở xác ngập khoang hận thù. Bắp non vẫn nướng lửa lò, Đố ai ve được con đò Thủ Thiêm. Nhưng vì đất nước và quê mẹ Vì quê chồng bờ bến Thủ Thiêm Em đành ưng tên giặc cuồng điên. Nhưng áo cưới phất cao cờ lịnh, Trái bắp non bỗng hóa trái Lưu Cầu Đầu giặc rơi xây núi giữa cầu tàu Lửa thủy công thay ngọn đèn hoa chúc. Nhưng sau trận chiến binh lửa tắt Con đò cảm lạnh bến bờ xưa Ai gọi đò? nhưng cô lái thôi đưa Bông gòn rơi trắng khăn sô, Khóc cô lái đã xây mồ đáy sông. Trên bến cũ, giặc xây phòng tuyến Người qua đò đi giữa gai chông Con đò đổi ván thay cong Thay tình bờ bến, đổi lòng đò đưa Đò nay là gái giang hồ Không đưa khách, chỉ mong chờ bướm ong. Con đò chỉ đậu giữa sông, Để cho ong bướm đậu trong khoang đò. Bắp non thôi nướng lửa lò, Nhuốc nhơ thay những chuyến đò truy hoan. Rồi đêm trăng mồng ba vừa mọc, Anh trở về Bến Nghé Thủ Thiêm, Khoát nước sông giũ tà áo bụi Bên sông cất tiếng gọi đò thêm: "Hỡi cô lái đò bến Thủ Thiêm, Cố nhân nay đã về tìm cố nhân". Thế rồi một giọng hò khoan Từ trong đáy nước vang ngân lên trời: "Đò xưa đã nát ván rồi Mà cô gái vẫn khóc người chinh phu". Lần thứ nhứt chàng trai Bến Nghé Nâng khăn lau giọt lệ đầu tiên Nhưng vì khói súng còn nghi ngút, Chàng phải lìa xa bến Thủ Thiêm. Từ đây trong khói sương đêm, Con đò ma vẫn cất lên giọng hò: "Bắp non vẫn nướng lửa lò, Đố ai ve được con đò Thủ Thiêm". . Con đò Thủ Thiêm Kiên Giang Chừng nào Chợ Lớn hết vôi Nước Nam hết giặc em thôi đưa đò. Bắp non mà nướng lửa lò Đố ai ve được con đò Thủ Thiêm. Đó là mấy câu ca. phòng tuyến Người qua đò đi giữa gai chông Con đò đổi ván thay cong Thay tình bờ bến, đổi lòng đò đưa Đò nay là gái giang hồ Không đưa khách, chỉ mong chờ bướm ong. Con đò chỉ đậu giữa sông,. ngút, Chàng phải lìa xa bến Thủ Thiêm. Từ đây trong khói sương đêm, Con đò ma vẫn cất lên giọng hò: "Bắp non vẫn nướng lửa lò, Đố ai ve được con đò Thủ Thiêm.

Thứ Tư, 28 tháng 2, 2018

Bản đồ kiến thiết bán đảo Thủ Thiêm trước 1975.

Từ thời TT. Ngô Ðình Diệm, chính quyền khi đó đã có bản đồ kiến thiết bán đảo Thủ Thiêm nhằm mở rộng đô thị về hướng Ðông thay vì mở rộng về hướng Tây dọc theo từ Chợ Lớn đến Cần Giuộc. Tiếc là kế hoạch phát triển đô thị không được thực hiện vì chiến tranh giữa thập niên 60 lan rộng khắp nơi. Thực ra trước đó vài năm, người Mỹ bắt đầu giúp chính quyền Sài Gòn mở rộng thành phố về hướng Ðông Bắc. Khởi đầu công trình bằng xa lộ Biên Hoà, Làng đại học Thủ Ðức, khu công nghiệp thi nhau mọc làm bộ mặt Sài Gòn được sinh động, sung túc và thuận lợi hơn, trong khi Thủ Thiêm vẫn ngủ yên như từ thuở nào, duy nhất chỉ có cầu xa lộ dẫn vào nội đô mở ra một ngã rẽ đến bán đảo Thủ Thiêm để chuẩn bị cho dự án quy hoạch vào năm 1972. Lại một lần nữa, dự án không được thực hiện hoàn toàn, ngoại trừ chừng trên trăm nhà tiền chế xây bằng gạch đúc dành cho dân cư theo kiểu nhà ở bán nông thôn, mái lợp fibro xi-măng, có thông giếng trời ở phần chái bếp. Mùa mưa hay lúc triều cường khu vực này ngập đến đầu gối.Thủ Thiêm vẫn bị thiệt thòi, sống cảnh quê mùa giữa hai mùa mưa nắng. Dân ngụ cư đa phần từ các nơi đổ về, dân thương hồ sông rạch tụ tập dựng nhà dọc theo bờ sông kéo dài từ Cây Bàng đến đối diện kho 5 kho 10.

Dòng sông và con đò qua các thời kỳ.

“Đò ơi… đò, đò ơi…” - đó là tiếng gọi đò thân thương của người dân bên này sông mỗi khi muốn sang đò qua bên kia sông. Không những là vùng đất của sông nước. Đi đến bất cứ đâu, đứng bất kỳ chỗ nào từ thành phố cũng đều thấy sông, thấy nước. Vì vậy, Thủ Thiêm phát triển rất nhiều những bến đò ngang, đò dọc từ xưa gắn liền với hồi ức của người dân đất nơi đây.